Cẩn trọng khi dùng kháng sinh

Kháng sinh là gì?

Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán tổng hợp, tổng hợp với nồng độ rất thấp có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự phát triển hoặc diệt được vi khuẩn. Nó có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử, thường là một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn.

Từ khi Alexander Fleming tìm ra Penicilline (1928) việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn có những tiến bộ rất lớn. Kháng sinh đã giúp điều trị được nhiều bệnh hiểm nghèo, mang lại sự sống cho vô số người mà trước đó Y Học bó tay.

Ngày nay con người biết được khoảng 8000 chất kháng sinh, trong đó có khoảng 100 loại dùng trong Y khoa và Thú y. Thuốc kháng sinh có loại dùng theo đường toàn thân (uống, tiêm) hoặc tại chỗ (bôi ngoài da; nhỏ mắt, tai, mũi; đặt âm đạo...).

 

Nguyên tắc chung khi sử dụng kháng sinh

Về nguyên tắc sử dụng kháng sinh, Trung tâm Phòng và Kiểm Soát bệnh Hoa Kỳ (CDC) đưa ra khẫu hiệu: "Nguyên tắc thứ nhất: cố gắng không sử dụng kháng sinh, nguyên tắc thứ hai: cố gắng không sử dụng nhiều kháng sinh".

Chỉ sử dụng kháng sinh khi thật sự bị bệnh nhiễm khuẩn. Chỉ có thầy thuốc điều trị, dựa vào kinh nghiệm chữa bệnh, dựa vào xét nghiệm, mới xác định được có nhiễm khuẩn hay không?.

Hiện nay, trên thị trường tân dược nước ta có hơn 17 nhóm thuốc kháng sinh với khoảng 500 tên thuốc gốc và hàng ngàn tên biệt dược khác nhau. Vì vậy, các loại thuốc này phải được bác sĩ khám bệnh kê đơn mới được sử dụng.

Phải chọn đúng loại kháng sinh phù hợp. Việc lựa chọn kháng sinh dựa vào kháng sinh đồ, trong trường hợp cấp bách hoặc trong khi chờ đợi kết quả kháng sinh đồ có thể dựa vào kinh nghiệm.

Phải dùng kháng sinh đúng liều đúng cách. Phải dùng kháng sinh đủ thời gian. Tùy theo loại bệnh và tình trạng bệnh mà thời gian dùng kháng sinh có khi dài khi ngắn nhưng thông thường là không dưới 5 ngày.

Tuy nhiên, sự lạm dụng kháng sinh, sử dụng kháng sinh khi không cần thiết (như trong các bệnh do virus) đã khiến tạo ra các chủng vi trùng kháng kháng sinh, gây khó khăn và gia tăng tổn phí cho việc điều trị. Nó đã gây ra những đợt dịch nhiễm khuẩn bệnh viện làm tiêu tốn nhiều kinh phí và gia tăng tỷ lệ tử vong một cách đáng kể.

Kháng kháng sinh là gì?

Sự gia tăng của tình trạng kháng kháng sinh là một trong những thách thức lớn nhất của ngành y tế hiện nay. Kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn biến đổi theo một cách nào đó khiến cho kháng sinh bị giảm hoặc mất tác dụng. Khi đó, vi khuẩn có thể sống sót và tiếp tục mạnh thêm.

 

Khi một người bị nhiễm vi khuẩn kháng kháng sinh thì không chỉ việc điều trị cho người đó gặp khó khăn hơn, mà vi khuẩn kháng thuốc còn có thể lây sang người khác.

Khi kháng sinh mất tác dụng, hậu quả có thể là: Bệnh lâu hơn, bệnh phức tạp hơn, phải đi khám nhiều lần hơn, phải sử dụng thuốc mạnh hơn và đắt tiền hơn, nhiều trường hợp tử vong do nhiễm khuẩn hơn

Những ví dụ về vi khuẩn có thể kháng kháng sinh bao gồm những loài vi khuẩn gây nhiễm trùng da, viêm màng não, bệnh lây qua đường tình dục và nhiễm trùng hô hấp như viêm phổi.

Các bước để giảm nguy cơ kháng kháng sinh

  • Không bao giờ khăng khăng đòi bác sĩ kê đơn thuốc kháng sinh cho mình.
  • Thực hành đúng các kỹ thuật rửa tay để giảm nguy cơ mắc hoặc lây lan nhiễm trùng - tay cần được rửa bằng nước ấm và xà phòng trong ít nhất 20 giây.
  • Không dùng kháng sinh để điều trị nhiễm vi rút.
  • Duy trì lối sống lành mạnh bằng chế độ ăn cân đối, uống đủ nước, tập luyện và nghỉ ngơi đầy đủ.
  • Không sử dụng kháng sinh được kê đơn cho người khác.
  • Không sử dụng kháng sinh còn thừa lại từ lần điều trị trước.
  • Nếu được kê đơn kháng sinh, cần dùng hết liệu trình cho dù đã cảm thấy đỡ bệnh.